ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách, Văn bản số 485/CV-VPTW ngày 31/5/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 Khoá VIII đã yêu cầu nghiên cứu thiết lập hệ thống dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước. Thực hiện chỉ đạo trên, ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách.

Sau 8 năm thực hiện Quyết định số 734/TTg, đã có 64 Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước ở cấp tỉnh, 938 Chi nhánh, Tổ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện, với 483 Chuyên viên và 7.269 Cộng tác viên. Đã có trên 634.773 vụ việc được trợ giúp pháp lý và hàng chục triệu lượt người được tuyên truyền, giải đáp pháp luật.

Thực tiễn công tác trợ giúp pháp lý cho thấy đây là chính sách hợp lòng dân, phù hợp với đạo lý của dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới; giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, thể hiện tính ưu việt của pháp luật và của chế độ ta.

Trước yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế cũng như thực tiễn phát triển mạnh mẽ của công tác trợ giúp pháp lý, pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý đã tỏ ra không còn phù hợp, đòi hỏi phải được pháp điển hoá, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, cụ thể là:

Thứ nhất, trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách xã hội thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đặc biệt là những người nghèo, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh đặc biệt (người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa), nhưng đến nay vẫn chưa được thể chế hoá trong luật.

Thứ hai, trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia công tác trợ giúp pháp lý. Nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân ngày càng lớn, trong khi Nhà nước vẫn còn thiếu những cơ chế, chính sách để thu hút, huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào công tác này, cũng như nâng cao trách nhiệm của hoạt động công vụ trong việc giải quyết các công việc của người dân.

Thứ ba, phần lớn nhu cầu trợ giúp pháp lý xuất phát từ cơ sở nhưng hiện nay, các tổ chức trợ giúp pháp lý mới chỉ được thành lập đến cấp tỉnh, mô hình trợ giúp pháp lý ở cấp huyện, xã chưa được xác định nên những người được trợ giúp pháp lý còn khó khăn trong việc tiếp cận với các tổ chức trợ giúp pháp lý.

Thứ tư, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất cho hoạt động trợ giúp pháp lý còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân. Đội ngũ luật sư còn mỏng, rất thiếu ở vùng sâu, vùng xa, trong khi pháp luật tố tụng chưa quy định việc các chuyên viên trợ giúp pháp lý của Nhà nước được tham gia tố tụng. Yêu cầu của cải cách tư pháp đòi hỏi phải tạo lập hành lang pháp lý bảo đảm cho người được trợ giúp pháp lý được trợ giúp pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nhất là khi vụ việc cần được giải quyết tại các cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ năm, thiếu sự phân định cụ thể trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, các ngành, các cấp nên việc tham gia của các cơ quan này trong hoạt động trợ giúp pháp lý còn rất hạn chế, đặc biệt là trong việc giải quyết dứt điểm vụ việc trợ giúp pháp lý.

Thứ sáu, trợ giúp pháp lý là xu thế tiến bộ được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng để đưa pháp luật vào cuộc sống, giảm áp lực phân hóa giàu nghèo. Phần lớn các nước đều điều chỉnh hoạt động này bằng một đạo luật.

II. CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

1. Thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động trợ giúp pháp lý theo tinh thần và nội dung được nêu tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020); thực hiện cải cách hành chính, phân cấp cụ thể để địa phương chủ động đưa công tác trợ giúp pháp lý hướng về cơ sở, tạo thuận lợi cho dân;

2. Trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ của Nhà nước đồng thời cũng là trách nhiệm chung của toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; từng bước xã hội hoá công tác trợ giúp pháp lý; Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; khuyến khích, hướng dẫn, huy động sự tham gia, đóng góp của các lực lượng xã hội vào công tác này;

3. Trợ giúp pháp lý là quyền của người nghèo phải được tổ chức thành địa chỉ và chỗ dựa tin cậy cho người nghèo, đối tượng chính sách trong việc hỗ trợ, giúp đỡ họ về mặt pháp luật, góp phần nâng cao dân trí pháp lý, thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo;

4. Điều chỉnh toàn diện công tác trợ giúp pháp lý, quy định cụ thể về người được trợ giúp pháp lý, thủ tục trợ giúp pháp lý, tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý, hình thành các chuẩn mực, quy tắc nghề nghiệp trong hoạt động trợ giúp pháp lý; các điều kiện bảo đảm hoạt động và tăng cường công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý;

5. Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, kế thừa những quy định của pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý; tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm trợ giúp pháp lý của các nước trong khu vực và trên thế giới.

III. BỐ CỤC, PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ.

1. Bố cục: Luật Trợ giúp pháp lý gồm 8 chương với 52 điều.

Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 9)

Chương II. Người được trợ giúp pháp lý (từ Điều 10 đến Điều 12)

Chương III. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý (từ Điều 13 đến Điều 19)

Chương IV. Người thực hiện trợ giúp pháp lý (từ Điều 20 đến Điều 25)

Chương V. Phạm vi, hình thức và hoạt động trợ giúp pháp lý (từ Điều 26 đến Điều 45)

Chương VI. Quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý (từ Điều 46 đến Điều 47)

Chương VII. Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp (từ Điều 48 đến Điều 50)

Chương VIII. Điều khoản thi hành (từ Điều 51 đến Điều 52)

2. Phạm vi điều chỉnh của Luật Trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý (được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 23/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007) quy định về người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.

3. Một số nội dung chủ yếu của Luật Trợ giúp pháp lý

Chương I. Những quy định chung. Quy định những vấn đề chung nhất mang tính nguyên tắc như phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; khái niệm trợ giúp pháp lý; nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý; vụ việc trợ giúp pháp lý; chính sách trợ giúp pháp lý; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý; Quỹ trợ giúp pháp lý và các hành vi bị nghiêm cấm trong trợ giúp pháp lý.

Về khái niệm trợ giúp pháp lý: Theo quy định tại Điều 3 của Luật thì trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp; về tính chất, hoạt động trợ giúp pháp lý tương tự như hoạt động của luật sư, khác nhau ở chỗ luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý có thu phí (người thuê luật sư trả thù lao cho luật sư), còn trợ giúp pháp lý cung cấp dịch vụ pháp lý không thu phí (người được trợ giúp pháp lý không phải trả thù lao cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý). Do đó, trợ giúp pháp lý được coi là một trong những chính sách xã hội thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân khi họ thuộc trường hợp đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ.

Về nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý: Điều 4 Luật Trợ giúp pháp lý, quy định 5 nguyên tắc trong hoạt động trợ giúp pháp lý bao gồm: Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý; trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý và nguyên tắc chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý. Đây là những nguyên tắc quan trọng lần đầu tiên được xác lập trong hoạt động trợ giúp pháp lý, từ những quy định của một số văn bản hiện hành về trợ giúp pháp lý.

Về vụ việc trợ giúp pháp lý: Vụ việc trợ giúp pháp lý được quy định tại Điều 5 của Luật, đó là những vụ việc phải liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Việc hạn chế vụ việc trợ giúp pháp lý không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại đã kế thừa quy định của pháp luật hiện hành và phù hợp với pháp luật của các nước về trợ giúp pháp lý; mặt khác, theo quy định của Luật này, người được trợ giúp pháp lý không chỉ là người nghèo mà còn nhiều đối tượng khác trong xã hội, do đó việc hạn chế vụ việc không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại còn bảo đảm phù hợp với khả năng thực tế về ngân sách của Nhà nước.

Chính sách trợ giúp pháp lý: Tại Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý quy định, trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý. Đây là một quy định mới, thể hiện tư tưởng chủ đạo trong việc chỉ đạo công tác trợ giúp pháp lý, vừa xác định trách nhiệm và vai trò chính của Nhà nước trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, vừa thể hiện quan điểm từng bước xã hội hoá trợ giúp pháp lý, huy động các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc có đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý.

Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý: Được quy định tại Điều 7 của Luật, theo đó, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức, thành viên, hội viên và cá nhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp, tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để trợ giúp pháp lý. Việc Luật Trợ giúp pháp lý quy định vấn đề này nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác trợ giúp pháp lý.

Về quỹ trợ giúp pháp lý: Để bảo đảm nguồn tài chính cho sự phát triển ổn định và bền vững của công tác trợ giúp pháp lý, thể hiện trách nhiệm nòng cốt của Nhà nước trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý quy định về Quỹ trợ giúp pháp lý (Điều 8). Theo đó, Quỹ trợ giúp pháp lý được lập để hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương có khó khăn về kinh tế. Nguồn tài chính của Quỹ trợ giúp pháp lý gồm đóng góp tự nguyện, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác. Quỹ trợ giúp pháp lý hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được miễn thuế. Việc quản lý và sử dụng quỹ trợ giúp pháp lý phải đúng mục đích và theo quy định của pháp luật. Chính phủ quy định cụ thể việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ trợ giúp pháp lý.

Chương II. Người được trợ giúp pháp lý. Chương này quy định cụ thể về người được trợ giúp pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý.

Về người được trợ giúp pháp lý: Theo Điều 10 của Luật, người được trợ giúp pháp lý gồm: người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Tiêu chí cụ thể đối với từng diện người được trợ giúp pháp lý cần phải căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật. Cụ thể như sau:

Người nghèo là người thuộc diện hộ nghèo. Việc xác định hộ nghèo hiện nay được áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010. Theo đó ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/ năm) trở xuống là hộ nghèo, đối với khu vực thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm).

Người có công với cách mạng: là những người được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Như vậy, người có công với cách mạng được trợ giúp pháp lý là: Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng.

Người già cô đơn không nơi nương tựa: được áp dụng theo quy định của Pháp lệnh về người cao tuổi. Đây là những người từ 60 tuổi trở lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng.

Người tàn tật không nơi nương tựa: được áp dụng theo quy định của Pháp lệnh về người tàn tật. Đây là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn mà không có ai nuôi dưỡng, chăm sóc.

Trẻ em không nơi nương tựa: sẽ được áp dụng theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây là người dưới mười sáu tuổi, không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng.

Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn: Đây là người dân tộc thiểu số thường trú ở các huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số, miền núi cao hoặc miền núi, hải đảo được Chính phủ quy định cụ thể. Diện đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý cũng như số lượng người được trợ giúp pháp lý đã tăng lên đáng kể so với trước đây.

Về quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý: Các quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý được quy định tại Điều 11 và Điều 12 Luật Trợ giúp pháp lý, trong đó, đáng lưu ý là các quyền lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý; quyền được bồi thường thiệt hại; quyền thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý và quyền được yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý. Một trong các nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý là phải cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý và cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu đó đồng thời không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về một vụ việc đang được tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp.

Chương III. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Chương này quy định về các vấn đề như: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, quyền và nghĩa vụ của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; đăng ký và chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi tham gia trợ giúp pháp lý.

Về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý: Theo Điều 13 của Luật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Giám đốc Trung tâm do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Chi nhánh Trung tâm trợ giúp pháp lý là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm. Việc thành lập Chi nhánh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương (trên cả nước đã có 64 Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cấp tỉnh được thành lập theo Quyết định số 734 ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ).

Tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý khi đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực trợ giúp với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động. Tổ chức hành nghề luật sư theo Luật luật sư là Văn phòng luật sư, Công ty luật, còn tổ chức tư vấn pháp luật là Trung tâm tư vấn pháp luật được thành lập theo Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật.

So với các quy định của pháp luật hiện hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã mở rộng hơn diện các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Nếu như trước đây, chỉ có các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được công nhận là tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thì với quy định mới này, Luật trợ giúp pháp lý đã mở rộng sự tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý của các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức hành nghề luật sư. Tổ chức hành nghề luật sư, các Trung tâm tư vấn pháp luật được công nhận là tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý và thực hiện trợ giúp pháp lý kể từ thời điểm được cấp Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, ở Trung ương, Cục Trợ giúp pháp lý sẽ không trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý mà tập trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nước thống nhất trong toàn quốc, tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám  sát việc tuân thủ pháp luật và thực hiện hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý…

Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý: Theo quy định tại Điều 15 và Điều 18 của Luật trợ giúp pháp lý, khi thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có những quyền và nghĩa vụ cụ thể,  trong đó đáng chú ý là những quyền và nghĩa vụ sau đây: Đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý; Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý; Kiến nghị về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật.

Để bảo đảm sự đồng bộ với các quyền và nghĩa vụ nói trên, tại khoản 2 Điều 7 của Luật quy định cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp, tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để trợ giúp pháp lý; khoản 5 Điều 4 của Luật quy định  một trong những nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý là chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý; Điều 42 của Luật quy định thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật, cơ quan nhận được kiến nghị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chương IV. Người thực hiện trợ giúp pháp lý. Chương này quy định về những người thực hiện trợ giúp pháp lý; Trợ giúp viên pháp lý; Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; Luật sư; Tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý và quyền, nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý khi thực hiện trợ giúp pháp lý.

Về người thực hiện trợ giúp pháp lý: Theo quy định của Luật này, Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý khi có đủ các tiêu chuẩn nhất định và được thực hiện đầy đủ các dịch vụ pháp lý: tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Điểm mới trong các quy định của pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý là lần đầu tiên chuẩn hoá chức danh người thực hiện trợ giúp pháp lý trong các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, chuyển các chuyên viên trợ giúp pháp lý sang thành các Trợ giúp viên pháp lý sau khi chuẩn hoá các vấn đề liên quan đến bồi dưỡng kỹ năng trợ giúp pháp lý và có một thời gian nhất định làm công tác pháp luật. Việc hình thành đội ngũ này nhằm khắc phục tình trạng thiếu luật sư, tăng cường năng lực cho các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong việc đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được Luật giao, nhất là việc cử người tham gia tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.

Luật sư và tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư, theo sự phân công của tổ chức tư vấn pháp luật nơi họ làm việc hoặc với tư cách cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý là luật sư hành nghề trong các tổ chức hành nghề luật sư (công ty luật, văn phòng luật sư) và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân còn tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý là tư vấn viên pháp luật làm việc tại Trung tâm tư vấn pháp luật được thành lập theo Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 của Chính phủ. So với quy định hiện hành, Luật đã mở rộng phạm vi tham gia trợ giúp pháp lý của các luật sư, tư vấn viên pháp luật. Nếu như trước đây, những đối tượng này chỉ tham gia với tư cách là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thì với quy định mới này, họ có thể tham gia thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

Công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có đủ sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý mà không thuộc các trường hợp bị cấm theo quy định của Luật này thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ Cộng tác viên trợ giúp pháp lý trong các trường hợp sau đây:

- Người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề liên quan  đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;

- Người đang thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng.

Cộng tác viên không phải là luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật. Khi tham gia trợ giúp pháp lý, cộng tác viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính theo quy định của pháp luật.

Về quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý: Luật Trợ giúp pháp lý cũng quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý tại Điều 25, trong những quyền và nghĩa vụ này đáng chú ý là việc  người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý đối với một số trường hợp nhất định, cụ thể là: Người yêu cầu trợ giúp pháp lý không thuộc diện người được trợ giúp pháp lý. Người được trợ giúp pháp lý cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc. Người được trợ giúp pháp lý rút yêu cầu trợ giúp pháp lý. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã từng là người giải quyết vụ việc đó. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền, lợi ích hợp pháp hoặc có người thân thích liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý …

Để phù hợp với hoạt động nghề luật, Luật Trợ giúp pháp lý quy định người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được tham gia trợ giúp pháp lý:

- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

- Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính;

- Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực;

- Đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; Bị thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.

Chương V. Phạm vi, hình thức và hoạt động trợ giúp pháp lý. Nội dung của chương này tập trung vào các quy định liên quan đến phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý, các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Ngoài ra, các vấn đề như địa điểm tiếp người được trợ giúp pháp lý; yêu cầu trợ giúp pháp lý; thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý; thực hiện trợ giúp pháp lý; phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý; chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý; kiến nghị thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý; hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý; lưu trữ hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý; từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý cũng được quy định cụ thể trong chương này.

So với các quy định hiện hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã mở rộng hơn phạm vi các hình thức trợ giúp pháp lý. Các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được thực hiện tất cả các hình thức trợ giúp pháp lý được quy định tại Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý bao gồm: Tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện của đương sự trong vụ việc dân sự, hành chính; đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác như tham gia hoà giải, giúp người được trợ giúp pháp lý thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và một số hoạt động khác.

Hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước giới hạn trong phạm vi các vụ việc mà người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương trực tiếp yêu cầu hoặc vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương hoặc vụ việc trợ giúp pháp lý do các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác chuyển đến. Đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý thì được thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý nhưng phải phù hợp với nội dung Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật nơi họ làm việc (Điều 26).

Chương VI: Quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý: Chương này quy định các vấn đề về nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương; có trách nhiệm bảo đảm biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm về trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương (Điều 47).

Chương VII. Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp. Chương này quy định các nội dung như: Các trường hợp bị xử lý vi phạm, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm; các vấn đề liên quan đến thẩm quyền, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về trợ giúp pháp lý.

IV. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành

Luật Trợ giúp pháp lý sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Để bảo đảm cho Luật Trợ giúp pháp lý được thi hành nghiêm chỉnh ngay sau khi có hiệu lực, Quốc hội đã giao cho Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này. Cơ quan tư pháp các cấp chủ trì việc phổ biến, tuyên truyền Luật Trợ giúp pháp lý bằng các hình thức thích hợp để người dân sớm tiếp cận với các quy định của Luật này.

2. Ban hành các văn bản hướng dẫn:

2.1. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý.

Điều 52 Luật TGPL quy định Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này. Để thực hiện nhiệm vụ được Quốc hội giao, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

2.2. Ngoài ra, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan cần ban hành các văn bản quy định về:

- Tổ chức, biên chế và cơ sở vật chất của Cục Trợ giúp pháp lý và các các Trung tâm trợ giúp pháp lý ở địa phương;

- Các tiêu chuẩn; chế độ, chính sách; tổ chức và hoạt động của người thực hiện trợ giúp pháp lý.

- Trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý; một số vấn đề về quản lý và hoạt động trợ giúp pháp lý.

- Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Quỹ Trợ giúp pháp lý.

About these ads
This entry was posted in News - Nghiên cứu, bình luận, phân tích, trao đổi. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s